Lễ cưới dân gian
Khi nhà trai xin cưới và nếu nhà gái thuận
thì trả lời cho ông bà mai. Sự trả lời này còn bao gồm việc thách cưới, nghĩa
là nhà gái đòi nhà trai trong lễ đón dâu phải có những đồ lễ gì, bao nhiêu.
Thách cưới, nhà gái thường đòi với số lượng lớn, yêu cầu thường là trầu rượu,
cau, trà, bánh trái, gạo, heo, đồ trang sức, y phục cho cô dâu và tiền mặt. Đúng ngày cưới, người ta chọn giờ
"hoàng đạo" mới đi, thường là về chiều, có nơi đi vào chập tối. Dẫn
đầu đám rước đàng trai là một cụ già nhiều tuổi được dân làng kính nể vì tuổi
tác, tư cách, địa vị xã hội, đóng vai chủ hôn. Ở miền Bắc Việt Nam ngày xưa, tại nhà trai, người
ta chờ đợi đám rước dâu về. Một quả lò than đốt hồng đặt trước ngưỡng cửa để
chờ cô dâu với nghĩa: lửa hồng sẽ đốt hết những tà ma theo ám ảnh cô dâu và sẽ
đốt vía của tất cả những kẻ độc mồm độc miệng đã quở mắng cô dâu ở dọc đường. Cô dâu vào lễ gia tiên nhà chồng xong, ông
bà cũng như bố mẹ chồng tặng cho cô dâu món quà, thường là tiền hoặc là đồ nữ
trang. Lễ tơ hồng được cử hành rất đơn giản. Bàn
thờ thiết lập ngoài trời, bày lư hương và nến hay đèn, tế vật dùng xôi, gà,
trầu, rượu. Hai ngày sau lễ cưới, vợ chồng đưa nhau về
thăm cha mẹ vợ với một số lễ vật, tùy theo tập tục địa phương bên vợ. Xưa lễ
này gọi là "Nhị hỷ". Nếu nhà chồng ở cách xa quá, không về được trong
hai ngày thì có thể để bốn ngày sau, gọi là "Tứ hỷ". Theo tục lệ vợ chồng đem lễ chay hoặc lễ
mặn về nhà để cúng gia tiên, để trình bày với gia tiên và cha mẹ, cùng họ hàng
việc cưới đã xong xuôi toàn mãn. |